Đặc trưng của thuế tiêu thụ đặc biệt tại Việt Nam

Thuế tiêu thụ đặc biệt có một số đặc trung phải kể đến sau: Thứ nhất, thuế tiêu thụ đặc biệt là thuế gián thu. Thứ hai, thuế tiêu thụ đặc biệt có diện đánh thuế hẹp. Thứ ba, thuế suất tiêu thụ đặc biệt có thể là thuế suất cố định hoặc thuế suất tỉ lệ và thường cao hơn so với thuế suất của các loại thuế gián thu khác, Thứ tư, thuế tiêu thụ đặc biệt thường chỉ được thu ở lần tại khâu sản xuất hoặc khi nhập khẩu.

Bài viết liên quan

Nhà nước và thuế là hai phạm trù gắn liền, luôn đi kèm với nhau. Thuế là công cụ quan trọng để quản lý, điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế và có sự cần thiết khách quan đối với mọi Nhà nước.  Trong tình hình hiện nay, bối cảnh kinh tế đang mở rộng và các khu vực kinh tế mở của theo hướng toàn cầu hóa, việc sử dụng công cụ điều tiết quản lý nền kinh tế đất nước này càng quan trọng hơn nữa. Tuy nhiên không thể dùng những cách cổ điển để quản lý pháp luật thuế, cần có những sửa đổi, thay đổi cho phù hợp với hoàn cảnh hội nhập thế giới này. Trong giai đoạn cải cách hệ thống pháp luật thuế, có rất nhiều sắc thuế cần được nghiên cứu kỹ càng, đặc biệt trong đó là thuế tiêu thụ đặc biệt. Thuế tiêu thụ đặc biệt là một trong những sắc thuế quan trọng, chủ chốt cho nguồn thu vào ngân sách nhà nước. Vậy thuế tiêu thụ đặc biệt có đặc điểm gì, được thể hiện thế nào? Điều này sẽ được làm rõ trong bài viết dưới đây.

Khái niệm thuế tiêu thụ đặc biệt

Thuế tiêu thụ đặc biệt là loại thuế đánh vào một số loại hàng hóa dịch vụ đặc biệt, cần điều tiết mạnh nhằm hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng đồng thời tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Thuế tiêu thụ đặc biệt có ở rất nhiều quốc gia, hầu hết là tất cả các nước, vì đây là một loại thuế có hiệu quả cao. Bởi vì số thu của nó rất cao, việc thu thuế cũng dễ dàng, và việc đánh thuế thì được nhận được sự đồng thuận lớn của nhân dân.

Theo Luật thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế tiêu thụ đặc biệt là loại thuế thu vào hành vi sản xuất, nhập khẩu các mặt hàng thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt và hành vi kinh doanh dịch vụ thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. Thuế được cấu thành trong giá cả hàng hóa, dịch vụ và do người tiêu dùng chịu khi mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ.

Phạm vi áp dụng

Đối tượng chịu thuế

1. Hàng hóa:

a) Thuốc lá điếu, xì gà và chế phẩm khác từ cây thuốc lá dùng để hút, hít, nhai, ngửi, ngậm;

b) Rượu;

c) Bia;

d) Xe ô tô dưới 24 chỗ, kể cả xe ô tô vừa chở người, vừa chở hàng loại có từ hai hàng ghế trở lên, có thiết kế vách ngăn cố định giữa khoang chở người và khoang chở hàng;

đ) Xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh có dung tích xi lanh trên 125cm3;

e) Tàu bay, du thuyền;

g) Xăng các loại;

h) Điều hoà nhiệt độ công suất từ 90.000 BTU trở xuống;

i) Bài lá;

k) Vàng mã, hàng mã;

2. Dịch vụ:

a) Kinh doanh vũ trường;

b) Kinh doanh mát-xa (massage), ka-ra-ô-kê (karaoke);

c) Kinh doanh ca-si-nô (casino); trò chơi điện tử có thưởng bao gồm trò chơi bằng máy giắc-pót (jackpot), máy sờ-lot (slot) và các loại máy tương tự;

d) Kinh doanh đặt cược;

đ) Kinh doanh gôn (golf) bao gồm bán thẻ hội viên, vé chơi gôn;

e) Kinh doanh xổ số.

Đối tượng không chịu thuế

Hàng hóa quy định tại khoản 1 Điều 2 của Luật này không thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt trong các trường hợp sau: 

1. Hàng hóa do cơ sở sản xuất, gia công trực tiếp xuất khẩu hoặc bán, ủy thác cho cơ sở kinh doanh khác để xuất khẩu;

2. Hàng hóa nhập khẩu bao gồm:           

a) Hàng viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại; quà tặng cho cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, quà biếu, quà tặng cho cá nhân tại Việt Nam theo mức quy định của Chính phủ;

b) Hàng hóa vận chuyển quá cảnh hoặc mượn đường qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam, hàng hóa chuyển khẩu theo quy định của Chính phủ;

c) Hàng tạm nhập khẩu, tái xuất khẩu và tạm xuất khẩu, tái nhập khẩu không phải nộp thuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu trong thời hạn theo quy định của pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;

d) Đồ dùng của tổ chức, cá nhân nước ngoài theo tiêu chuẩn miễn trừ ngoại giao; hàng mang theo người trong tiêu chuẩn hành lý miễn thuế; hàng nhập khẩu để bán miễn thuế theo quy định của pháp luật;

3. Tàu bay, du thuyền sử dụng cho mục đích kinh doanh vận chuyển hàng hóa, hành khách, khách du lịch và tàu bay sử dụng cho mục đích an ninh, quốc phòng;

4. Xe ô tô cứu thương; xe ô tô chở phạm nhân; xe ô tô tang lễ; xe ô tô thiết kế vừa có chỗ ngồi, vừa có chỗ đứng chở được từ 24 người trở lên; xe ô tô chạy trong khu vui chơi, giải trí, thể thao không đăng ký lưu hành và không tham gia giao thông;

5. Hàng hoá nhập khẩu từ nước ngoài vào khu phi thuế quan, hàng hoá từ nội địa bán vào khu phi thuế quan và chỉ sử dụng trong khu phi thuế quan, hàng hoá được mua bán giữa các khu phi thuế quan với nhau, trừ xe ô tô chở người dưới 24 chỗ.

(Căn cứ Điều 2, 3 Luật thuế giá trị gia tăng)

Đặc trưng của thuế tiêu thụ đặc biệt

Thuế tiêu thụ đặc biệt có một số đặc trung phải kể đến sau:

Thứ nhất, thuế tiêu thụ đặc biệt là thuế gián thu. Tính chất gián thu của thuế tiêu thụ đặc biệt được thể hiện ở chỗ: Thuế tiêu thụ đặc biệt đánh vào thu nhập của người tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ chịu thuế một cách gián tiếp thông qua giá cả của hàng hóa, dịch vụ mà người đó tiêu dùng và người sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là người nộp thuế cho Nhà nước thay cho người tiêu dùng. Như vậy, người sản xuất, nhập khẩu hàng hóa, kinh doanh dịch vụ sẽ nộp thuế tiêu thụ đặc biệt và khoản thuế này sẽ được chuyển vào giá bán sản phẩm và chuyển sang cho người tiêu dùng cuối cùng phải gánh chịu.

Thứ hai, thuế tiêu thụ đặc biệt có diện đánh thuế hẹp. Thuế tiêu thụ đặc biệt là thuế tiêu dùng, nhưng khác với thuế bán hàng hay thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế giá trị gia tăng là những loại thuế có đối tượng chịu thuế rộng rãi và bao trùm hầu hết các mặt hàng và dịch vụ được tiêu thụ trong nền kinh tế, thuế tiêu thụ đặc biệt có diện đánh thuế hẹp, chỉ bao gồm một số hàng hóa, dịch vụ nhất định mà Nhà nước cần điều tiết. Tùy theo quan điểm của mỗi quốc gia mà danh mục hàng hoa và dịch vụ phải chịu loại thuế này theo pháp luật mỗi nước có thể sẽ khác nhau. Để lí giải điều này, có lẽ là do chủ trương, chính sách của mỗi nước trong việc hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng cũng như trong lĩnh vực điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư ở từng giai đoạn phát triển kinh tế, xã hội và phong tục tập quán ở mỗi nước.

Nhưng nhìn chung, các nước hầu hết sẽ đánh loại thuế này vào một số mặt hàng giống nhau như thuốc lá, rượu, bia, xăng dầu …, hay kinh doanh các cược, đua xe, sòng bài… Như vậy, đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt chủ yếu là những hàng hóa, dịch vụ được coi là cao cấp và không thiết yếu, hay là các mặt hàng Nhà nước không khuyến khích tiêu dùng do việc tiêu dùng ảnh hưởng tiệu cực đến con người nhưng không thể cấm tiêu dùng.

Thứ ba, thuế suất tiêu thụ đặc biệt có thể là thuế suất cố định hoặc thuế suất tỉ lệ và thường cao hơn so với thuế suất của các loại thuế gián thu khác.

Đối với các loại thuế gián khu khác như thuế giá trị gia tăng, thuế doanh thu và thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, luật pháp các nước thường quy định hệ thống thuế suất tỉ lệ làm căn cứ tính thuế. Với thuế tiêu thụ đặc biệt thì có thể là thuế suất cố định hoặc thuế suất tỉ lệ, tùy theo quan điểm của pháp luật mỗi nước.

Đối với thuế suất tỉ lệ, việc điều chỉnh mức thu thường được đặt ra khi Nhà nước chủ trương thay đổi chính sách hướng dẫn phát triển sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng xã hội, hoặc khi cần thay đổi tỉ lệ động viên vào ngân sách nhà nước. Biểu thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt có thể bao gồm hệ thống thuế suất tỉ lệ, theo đó, mức thu quy định sẽ bằng một tỉ lệ phần trăm tính trên giá thuế hàng hóa, dịch vụ. Trung Quốc và Việt Nam là những ví dụ về quốc gia áp dụng biểu thuế suất tỉ lệ cho thuế tiêu thụ đặc biệt. Thuế suất áp dụng đối với rượu và thuốc lá ở Trung Quốc dao động trong khoảng 60% đến 70%.

Tuy nhiên thì bên cạnh đó cũng có quốc gia sử dụng cả thuế suất cố định và thuế suất tỉ lệ đối với sự tiêu dùng của một số mặt hàng đặc biệt như Thái Lan. Pháp luật của Thái Lan quy định về một số mặt hàng phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt theo thuế suất cố định như: đồ uống không cồn, thuốc lá, xăng. Và cũng quy định riêng một số mặt hàng phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt theo thuế suất tỉ lệ như bài, diêm và xi-măng.

Đối với thuế suất cố định, ngoài việc chịu ảnh hưởng của những yếu tố dẫn đến việc sửa đổi mức thu như trường hợp thuế suất tỉ lệ nói trên, thì mức độ lạm phát cũng là một tác nhân quan trọng khiến các nhà làm luật phải thường xuyên chỉnh mức thu để có thể theo kịp sự biến động của giá trị của đồng tiền.

Tuy nhiên, dù áp dụng loại thuế suất nào, thuế suất tỉ lệ hay là thuế suất cố định, thì các quốc gia hầu hết đều quy định mức thuế suất của thuế tiêu thụ đặc biệt cao, thậm chí cao hơn rất nhiều so với thuế suất của các loại thuế gián thu khác nhằm hướng dẫn một cách tiêu dùng hợp lý, có thể điều tiết thu nhập của những người sử dụng hàng hóa, dịch vụ đặc biệt với những người không sử dụng. Từ đó có thể tăng nguồn thu vào ngân sách nhà nước.

Thuế tiêu thụ đặc biệt thường có mức thuế suất cao, bỏi vì đối tượng của thuế tiêu thụ đặc biệt chỉ áp dụng với một số hàng hóa, dịch vụ nên các nước thường áp dụng mức thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt cao để hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng, qua đó cũng điều tiết một phần thu nhập của những người tiêu dùng các hàng hóa, dịch vụ có thu nhập cao, nhằm đảm bảo cho công bằng đời sống xã hội. Bên cạnh đó, dưới góc độ điều tiết thu nhập của người có thu nhập cao khi tiêu dùng các hàng hóa, dịch vụ có giá cả cao, thuế tiêu thụ đặc biệt còn góp phần khắc phục hạn chế về công bằng theo chiều dọc của thuế giá trị gia tăng.

Thứ tư, thuế tiêu thụ đặc biệt thường chỉ được thu ở lần tại khâu sản xuất hoặc khi nhập khẩu. Cùng một mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, khi luân chuyển qua khâu lưu thông sẽ không bị đánh thuế tiêu thụ đặc biệt. Đặc điểm này đã thể hiện được sự khác nhau của thuế tiêu thụ đặc biệt với thuế doanh thu và thuế giá trị gia tăng, ở chỗ là các loại thuế này đánh trên toàn bộ doanh thu bán hàng hoặc trên giá trị tăng thêm của hàng hóa ở mỗi khâu trong lưu thông. Vì vậy, việc quản lý thuế tiêu thụ đặc biệt đòi hỏi một sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ, để đảm bảo đến mức tối đa sự thất thu thuế tiêu thụ đặc biệt tại khâu sản xuất, cung ứng dịch vụ hoặc nhập khẩu.

Đặc trưng này của thuế tiêu thụ đặc biệt được quy định giống nhau ở khá nhiều nước. Tuy nhiên trên thực tế thì vẫn sẽ có những trường hợp ngoại lệ. Có trường hợp nguyên liệu sản xuất đã chịu thuế tiêu thụ đặc biệt do đó cơ sở sản xuất, kinh doanh bán hàng hóa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt từ những nguyên liệu này, thì sẽ được khấu trừ phần thuế tiêu thụ đặc biệt đã nộp. Và để được hưởng phần khấu trừ này, thì các nguyên liệu đã nộp thuế tiêu thụ đặc biệt phải có chứng từ hợp pháp. Số thuế tiêu thụ đặc biệt được khấu trừ đối với nguyên liệu tối đa không quá số tiêu thụ đặc biệt tương ứng với số nguyên liệu dùng sản xuất ra hàng hóa đã tiêu thụ.

Xã hội càng ngày càng phát triển với nền kinh tế đang chuyển mình mỗi ngày, thuế tiêu thụ đặc biệt càng ngày càng có vai trò quan trọng, góp phần phát triển ngân sách Nhà nước, ổn định kinh tế.

Bài viết khác

Bài viết liên quan